Lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào để khởi nghiệp?
- Tác giả: bundeptrai
- Ngày đăng:
- Cập nhật:
Như một lẽ đương nhiên, để thuận tiện hơn cho việc kinh doanh cũng như đáp ứng các yêu cầu về pháp luật, nhu cầu thành lập doanh nghiệp tăng đều qua từng năm. Điều đầu tiên cần xem xét khi thành lập doanh nghiệp chính là lựa chọn loại hình sao cho phù hợp. Trong bài viết dưới đây, tác giả sẽ giới thiệu về các loại hình doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành cũng như đưa ra một số tiêu chí để cân nhắc khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp.
Các loại hình doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành
Dựa trên các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, tác giả bài viết đề xuất rằng hiện nay có 05 loại hình doanh nghiệp bao gồm:
- Công ty TNHH một thành viên
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên
- Công ty cổ phần
- Doanh nghiệp tư nhân
- Công ty hợp danh
Lựa chọn loại hình doanh nghiệp theo các tiêu chí nào?
Số lượng thành viên, cổ đông góp vốn
Khi khởi xướng hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư có thể lựa chọn tự mình thực hiện hoặc thực hiện theo một nhóm từ đó dẫn đến việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp sao cho phù hợp. Cụ thể:
- Công ty TNHH một thành viên chỉ có duy nhất một thành viên (cá nhân hoặc tổ chức) góp vốn thành lập;
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên (cá nhân hoặc tổ chức) góp vốn thành lập;
- Công ty cổ phần có tối thiểu 03 cổ đông (cá nhân hoặc tổ chức) góp vốn thành lập và không giới hạn số cổ đông;
- Doanh nghiệp tư nhân chỉ có 01 thành viên là cá nhân góp vốn thành lập;
- Công ty hợp danh có tối thiểu 02 thành viên hợp danh là cá nhân, có thể có thêm các thành viên góp vốn và không giới hạn số thành viên.
Trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản
Rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi vì vậy một yếu tố các nhà đầu tư cần cân nhắc khi thành lập doanh nghiệp đó là trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản. Dưới góc độ lý luận có thể chia trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản làm 02 loại bao gồm: trách nhiệm hữu hạn tức là thành viên góp vốn/ cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm dựa trên phần vốn đã góp và trách nhiệm vô hạn tức là thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
Tuy nhiên, pháp luật hiện nay không quy định cụ thể về hai loại trách nhiệm này. Chúng ta có thể tìm thấy quy định về trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản trong định nghĩa của các loại hình doanh nghiệp. Theo cách phân loại kể trên, chúng ta có thể chia các loại hình doanh nghiệp như sau:
- Chế độ trách nhiệm hữu hạn: Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần. Đối với các loại hình doanh nghiệp này, thành viên góp vốn/ cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Chế độ trách nhiệm vô hạn: Doanh nghiệp tư nhân. Đối với loại hình doanh nghiệp này, chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Đối với Công ty hợp danh: Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trên phạm vi số vốn đã góp.
Tính đối nhân, đối vốn
Tương tự như việc phân loại trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản đã phân tích ở Mục 2, pháp luật hiện hành không quy định về tính đối nhân, đối vốn trong doanh nghiệp. Mặc dù vậy, dưới góc độ lý luận và thực tế vận hành, đây là yếu tố quan trọng khi cân nhắc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để thành lập.
Hiểu một cách đơn giản, công ty đối nhân được thành lập dựa trên sự liên kết, uy tín của các thành viên tham gia, việc góp vốn chỉ là thứ yếu. Cũng chính vì vậy, loại hình công ty này được vận hành dựa trên sự tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên, các thành viên cũng sẽ liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản. Công ty hợp danh chính là điển hình cho công ty đối nhân.
Công ty đối vốn được hiểu là loại công ty được thành lập được thành lập chủ yếu dựa trên cơ sở liên kết vốn, việc liên kết về uy tín giữa các thành viên có thể không có. Đặc điểm của loại công ty này đó là sự tách biệt giữa các thành viên góp vốn và theo đó các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn với số vốn mà mình đã góp vào công ty. Tính đối vốn thể hiện rõ nhất trong công ty cổ phần
Khả năng huy động vốn
Theo thời gian, nhu cầu phát triển, mở rộng doanh nghiệp là mong muốn của tất cả các nhà đầu tư. Với mỗi loại hình doanh nghiệp, phương thức huy động vốn là khác nhau và có những phương thức huy chỉ áp dụng đối với một hoặc một số loại doanh nghiệp nhất đinh. Có thể kể đến như sau:
- Công ty TNHH một thành viên có thể huy động vốn từ (i) chủ sở hữu công ty; (ii) nhận thêm phần vốn góp của thành viên mới nhưng phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang Công ty TNHH hai thành viên trở lên/ Công ty cổ phần; (iii) phát hành trái phiếu. Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phiếu;
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể huy động vốn từ (i) các thành viên góp vốn; (ii) nhận thêm vốn góp của thành viên mới; (iii) phát hành trái phiếu. Cũng giống như Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lại không được phát hành cổ phiếu;
- Công ty Cổ phần có thể huy động vốn đa dạng phương thức nhất bao gồm từ: (i) chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu; (ii) chào bán cổ phần riêng lẻ; (iii) chào bán cổ phần ra công chúng; (iv) phát hành trái phiếu;
- Công ty hợp danh có thể huy động vốn từ (i) các thành viên hợp danh; (ii) các thành viên góp vốn. Công ty hợp danh không được phát hành cổ phiếu, trái phiếu;
- Doanh nghiệp tư nhân chỉ có thể huy động vốn từ chủ sở hữu, không được phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Như vậy có thể thấy rằng Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn rất đa dạng và Doanh nghiệp tư nhân có khăng năng huy động vốn bị giới hạn.
Khả năng chuyển nhượng vốn điều lệ
Thông thường kết thúc một chu kỳ kinh doanh hoặc khi có mong muốn chuyển hướng kinh doanh, các nhà đầu tư sẽ có nhu cầu thoái vốn khỏi doanh nghiệp. Tuy rằng không phải yếu tố quyết định tuy nhiên hãy cùng tìm hiểu về khả năng chuyển nhượng vốn đối với từng loại hình doanh nghiệp. Cụ thể:
- Đối với Công ty TNHH một thành viên, do chỉ có một thành viên là chủ sở hữu do vậy việc chuyển nhượng vốn điều lệ phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu. Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho thành viên khác, Công ty phải thực hiện chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cho phù hợp;
- Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên, thành viên Công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác tuy nhiên phải ưu tiên chào bán cho các thành viên còn lại trước khi chào bán cho người khác không phải thành viên Công ty;
- Đối với Công ty cổ phần: Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Sau thời hạn 03 năm kể trên, cổ phần được tự do chuyển nhượng nếu Điều lệ không có quy định khác. Như vậy cũng có thể thấy Công ty cổ phần có cơ chế chuyển nhượng vốn ít hạn chế nhất;
- Đối với Công ty hợp danh, thành viên hợp danh chỉ có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình nếu có sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại. Bên cạnh đó thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại Công ty cho người khác;
- Đối với Doanh nghiệp tư nhân: hiện nay pháp luật không quy định cho phép chủ Doanh nghiệp tư nhân chuyển nhượng phần vốn góp tuy nhiên lại có thể bán Doanh nghiệp tư nhân của mình cho cá nhân, tổ chức khác. Do không có sự tách biệt về mặt tài sản giữa Doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu, theo tác giả việc bán Doanh nghiệp tư nhân về bản chất chính là chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân chuyển nhượng tài sản của mình cho người khác.
Khả năng chuyển đổi sang loại hình khác
Theo quy định hiện hành, có 04 trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp bao gồm:
- Chuyển đổi Công ty TNHH (bao gồm cả TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên) thành Công ty cổ phần;
- Chuyển đổi Công ty cổ phần thành Công ty TNHH một thành viên;
- Chuyển đổi Công ty cổ phần thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên;
- Chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh.
Luật doanh nghiệp 2020 không quy định trường hợp chuyển đổi Công ty hợp danh.
Các tiêu chí khác
Bên cạnh các tiêu chí trên, việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp có thể dựa trên các tiêu chí sau:
- Về cơ cấu tổ chức: Công ty cổ phần có thể coi là loại hình có cơ cấu tổ chức và mô hình quản trị phức tạp nhất trong khi đó Công ty TNHH một thành viên hay Doanh nghiệp tư nhân lại có cơ cấu tổ chức khá đơn giản;
- Pháp luật chuyên ngành: Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định rằng các đơn vị hành nghề luật sư không được là Công ty cổ phần hay Luật Đấu giá 2016 quy định công ty hành nghề đấu giá tài sản chỉ có thể lựa chọn một trong hai loại hình là Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh.
Trên đây TVFLAW đã đưa ra các tiêu chí để lựa chọn loại hình doanh nghiệp khi thành lập sao cho phù hợp. Bạn có thể tham khảo thêm các thông tin tại các bài viết cùng chuyên mục của TVFLAW.